Đang tải... Vui lòng chờ...

Những khái niệm cơ bản về phong thủy

Bài viết của KTS. Phùng Đạo Hợp - chuyên gia hàng đầu về phong thủy

PHONG THỦY ỨNG DỤNG TRONG ĐỜI SỐNG, KIẾN TRÚC VÀ QUY HOẠCH XÂY DỰNG

I. PHẦN 1

NHỮNG LÝ THUYẾT PHONG THỦY ỨNG DỤNG TRONG ĐỜI SỐNG VÀ KIẾN TRÚC

1. Khái quát về thuyết phong thủy và phong thủy kiến trúc:

          Ngày nay trong dân gian, mọi người đã gạt bỏ được quan niệm cho môn “phong thủy” là mê tín dị đoan, ngược lại phần lớn đã tin tưởng, tôn xưng và áp dụng thuật phong thủy vào đời sống và xây dựng nhà cửa, nơi ăn ở của mình.

          Môn phong thủy cho đến hôm nay được các nhà khoa học, học thuật, học giả chú trọng, nghiêm túc nghiên cứu, phổ biến và ứng dụng rộng rãi. Lập chương trình giảng dạy cho các môn sinh, đưa vào giảng dạy ở nhiều trường đại học, thành lập các viện và trung tâm nghiên cứu ứng dụng kinh dịch và phong thủy ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước Châu Á và ở Trung Quốc. Điều đó minh chứng cho ta thấy “phong thủy” ứng dụng đã trải qua biết bao sóng gió, thác ghềnh dài dằng dặc của mấy nghìn năm lịch sử loài người, vượt qua biết bao thời gian và không gian; cho ta thấy rõ sự tồn tại của nó đã không bị đào thải, mai một, mất đi... mà đã tồn tại, chắt lọc, loại bỏ cặn bã giữ lấy tinh khiết đã tồn tại trong dân gian, được bảo tồn, bổ sung, nâng cấp, gìn giữ và ứng dụng cho tới nay với một sức sống mãnh liệt và sẽ theo mãi mãi sau này. Với việc ứng dụng phong thủy trong đời sống và nhà ở, nó đã thực sự đem lại những điều tốt lành làm cân bằng đời sống, tạo thêm điều tốt lành, tránh được điều hung dữ... cho bất kỳ ai tin tưởng và áp dụng nó.

          Sự tổng kết, quy nạp thành một pho lý luận đồ sộ của môn phong thủy tới nay, nó đã cho ta một cơ sở vững vàng để thẩm định, đánh giá nó là môn vũ trụ học, trong đó bao gồm cả vật lý, địa chất thủy văn, môi trường cảnh quan, kiến trúc, trường vũ trụ và trái đất, trường nhân thể, điện sinh học... đều nhằm lợi dụng mặt tốt, hóa giải các tác động ảnh hưởng xấu vào cuộc sống sinh hoạt, hoạt động ăn ở và làm việc, sức khỏe của con người.

          “Phong thủy” hai từ gió và nước, nó hàm chứa biết bao điều vĩ đại của vũ trụ, của giới tự nhiên mà mọi sinh thể và con người nằm trong đó. Mà con người lại kế tiếp nhau hết đời này qua đời khác không ngừng khám phá, chắt lọc, bổ sung và ứng dụng vào đời sống sinh hoạt hàng ngày của mình.

          Với thực nghiệm bằng phương pháp khoa học, các nhà nghiên cứu cho rằng:

  • “Phong” là đại diện cho vùng khí do quang năng sinh ra.
  • “Thủy” là đại diện cho hình thái của sức từ trường trong vũ trụ.
  • Cơ thể con người là một sinh thể cũng mang trong mình một trường

gọi là trường nhân thể hay là điện sinh học. Có sự cảm ứng dẫn truyền với trường của vũ trụ và trái đất, hình thành sự tác độn tương hỗ ảnh hưởng lẫn nhau, sinh ra những điều thuận hay nghịch, tốt hay xấu và ứng với từng trường cá thể khác nhau.

  • “Phong” nghĩa từ là "gió", “Thủy” nghĩa từ là "nước". Hai từ này với cái tên “Phong Thủy” nó bao hàm trong một phạm vi rộng lớn hơn nhiều; bao gồm toàn bộ bầu trời và trái đất bao la.
  • “Phong” gió, cái mà mắt người không thấy, gồm có các sóng từ

trường, sóng âm thanh, ánh sáng, bóng tối, mùi vị... lan tỏa trong khắp không gian của bầu trời ta đang sống, chúng ta chỉ cảm nhận được sự tác động ảnh hưởng của nó đến với đời sống sinh hoạt của chúng ta từng giây từng phút mà ta không thể nắm bắt được nó. Sự tồn tại của các trường vô hình với sức ảnh hướng to lớn và liên tục không ngừng đó, thuộc phạm trù của chữ “Phong”.

  • “Thủy” là nước, là vật thể lỏng, nó có hình nhưng không định dạng,

luôn thay đổi theo hoàn cảnh, điều kiện. Thủy với khối lượng vĩ đại trong các biển hồ, cho thấy sức mạnh hùng vĩ của nó, khi được chứa trong một vật thể chai lọ, ly tách nó lại vô cùng nhỏ bé. Tương tự như với các dạng vật thể do con người tạo dựng để sử dụng, như với các công trình kiến trúc nhà cửa, to nhỏ, vuông tròn, cao thấp khác nhau... nó có sức ảnh hưởng tác động tới con người cũng không giống nhau. Với sự thay đổi có hình mà vô định của vật thể, nó thuộc phạm trù mà chữ “Thủy” trong phong thủy ta nghiên cứu.

          Sự tồn tại của tất cả mọi cái có trên trái đất này, không thể tách rời sự bao trùm tác động, chi phối của hai hình thái “Vô hình và hữu hình vô định” để tồn tại, sống còn. Nghĩa là mọi cái hoàn toàn nằm trong phạm vi chế ngự của hai thế lực vĩ đại của “Phong" và "Thủy”.

          Vậy chúng ta nghiên cứu, nắm bắt được lý thuyết của phong thủy, sự đúc kết tinh hoa trí tuệ của nhân loại, đem vào ứng dụng trong cuộc sống làm cân bằng trường điện của con người với trường vũ trụ để có được cuộc sống hài hòa, nhằm nâng cao sức khỏe, kéo dài tuổi thọ, đem lại cuộc sống tốt đẹp mà không một ai không mong muốn.

          Học thuật phong thủy, cái lâu nay mà tất cả mọi người vẫn quan tâm, tìm hiểu lý thuyết không khó, nhưng nắm bắt cho thấu đáo, cặn kẽ thì khi ứng dụng mới đạt hiệu quả cao, bằng không, áp dụng sai lệch nó sẽ có tác động ngược lại, gây hậu quả không lường cho người và vật ứng với sự sai lệch đó.

2. Nguyên lý âm dương với kiến trúc:

          Nói về học thuyết phong thủy; trước tiên ta cần hiểu rõ nguyên lý âm dương; sự nhận định, ảnh hưởng của âm dương trong đời sống và kiến trúc.

          Âm và dương là hai mặt của sự sống; như sáng và tối, nóng và lạnh, cao và thấp, trong và ngoài, đặc và rỗng, to và nhỏ, nam và nữ... so sánh hai mặt, tuy trái ngược nhau, mâu thuẫn lẫn nhau, nhưng luôn luôn thống nhất cùng tồn tại trong một tổng thể với nhau, nương tựa nhau mà tồn tại. So sánh giữa hai mặt Âm và dương ta thấy: nếu Âm thịnh thì Dương suy, nếu Dương thịnh thì Âm suy. Mà một mặt quá thịnh thì biến đổi; Âm quá thịnh thì sinh Dương; Dương quá thịnh thì sinh Âm.

          Trong kiến trúc công trình; nhà ở, phần âm dương được phân định như sau:

  • Phần dương: Khối hình thể lồi ra, phần thu được nhiều ánh sáng, những

mảng tường đặc, những đường nét cứng rắn, vật liệu nhẵn bóng, mịn màng, các gam màu sáng, nóng... được gọi là dương.

  • Phần âm: Khối hình thể lõm vào, phần khuất tối; các mảng trắng, khối

tường và đường nét mềm mại uyển chuyển, dùng loại vật liệu thô ráp, sần sùi, máu sắc lạnh; đen và tối,...được gọi là phần âm.

          Xét về âm dương; một công trình kiến trúc mà thiên về dương nhiều cho thấy người sống và làm việc trong đó quá năng động, thần kinh của mọi người có phần hưng phấn hơn, ưa đi lại nhiều, vội vã và hấp tấp, có nhiều nhận định thiếu chín chắn, muốn sống một cuộc sống bên ngoài nhiều hơn, hoặc không thích về nhà mình. Với công trình kiến trúc mà thiên về âm nhiều, cho thấy có sự tối tăm, trí tuệ và đầu óc thiếu sáng suốt, u mê và sống trong nhà đó thiếu năng động, sợ việc, lười nhác, suy nghĩ kém, thường bảo thủ, thiếu quyết đoán trong sự việc, dễ bằng lòng, có thể yếu đuối, nhút nhát, tự ti. Công trình, nhà ở mà âm khí nặng, người ở trong đó hay sinh ra nhiều chứng bệnh đau nhức, phong tê thấp, phù thũng.

          Vậy với một công trình nhà cửa chỉ chú trọng mặt sử dụng và tạo hình kiểu cách đẹp chưa gọi là đủ, nếu được vận dụng đầy đủ theo thuyết âm dương trong kiến trúc sẽ đem lại sự cân bằng, hài hòa cho căn nhà và làm cho những người sống trong nhà đó có được sự thoải mái, hòa hợp, sức khỏe với cuộc sống tốt đẹp hơn.

3. Nguyên lý Ngũ hành với kiến trúc:

          Theo thuyết phương Đông: Vũ trụ là do 5 yếu tố vật chất cơ bản tạo thành là hình thái biến đổi của âm dương người ta gọi là ngũ hành; gồm có: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Sự vận động của ngũ hành nổi bật theo hai quy luật: Tương sinh và tương khắc.

Mỗi một hình thể núi, hình dáng cuộc đất và hình khối công trình kiến trúc đều mang tính chất ngũ hành nhất định. Ta cần nắm chắc thuộc tính của từng loại cấu hình với ngũ hành của nó để ứng dụng trong lựa chọn sử dụng và trong thiết kế.

  • Hình thổ: có dáng hình vuông, khối vuông, hình chữ nhật ngắn, lùn, thấp,
  • Hình mộc: dáng hình chữ nhật hay khối chữ nhật, nằm ngang dài hay thẳng đứng, gầy, cao.
  • Hình kim: dáng hình tròn, elip, khối cầu, bát úp, khối hình không góc cạnh.
  • Hình hỏa: dáng hình có nhiều góc cạnh, góc nhọn, tam giác, khối chóp, hình gập ghềnh, hình sao, hình thoi.
  • Hình thủy: dáng uốn lượn, như làn sóng, khối hình sin, không góc cạnh.

4. Ngũ hành của màu sắc.

          Mối một vật thể đều mang một màu sắc nhất định, nó gắn liền với đời sống của muôn loài và có tác động tương hỗ làm phấn khích hay làm giảm sút sự hưng phấn của chúng ta. Màu sắc của ngũ hành được phân định như sau:

  • Màu hành Thổ: Màu vàng, màu nâu, kem vàng, màu vàng chanh,...
  • Màu hành Mộc: Xanh lá cây,...
  • Màu hành Kim: Màu trắng, màu bạc, ghi bạc,...
  • Màu hành Hỏa: MÀu đỏ, hồng, tím, màu cam, kem hồng, hồng nhạt.
  • Màu hành Thủy: Màu đen, đen tím, xanh tím, xanh biển, xanh da trời...

5. Nguyên lý bát quái với kiến trúc.

           Bát quái gồm 8 quẻ: Càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài. Là triết lý xúc tích vĩ đại nhất của cổ học phương Đông. Tám quẻ được phối hợp vào âm dương và ngũ hành , biểu hiện tính lý của vạn vật, được đặt vào một trong tám hướng của không gian, có hướng độ 45o, ấn định thời gian và có quan hệ đối ứng đến nhân luân.

          Hình đồ bát quái với 8 hướng; 8 quẻ và đặc thù về thuộc tính ngũ hành của nó được ứng dụng trong tất cả các lĩnh vực và được chia làm 2 nhóm hướng trường sinh hợp, xung khắc với nhau và mỗi hướng ứng với một quẻ trong bát quái. Mỗi nhóm gồm 4 hướng, mỗi hướng 45o được gọi là Đông tứ hướng và Tây tứ hướng.

5a) Đông tứ hướng gồm 4 hướng:

Bắc (quẻ khảm); Nam (quẻ ly); Đông (quẻ chấn); Đông nam (quẻ tốn). Người nào với năm sinh có trường nhân điện hợp với 4 hướng trên gọi là Đông tứ mạng. Nhà và các công trình có cổng và hướng cửa nhà mở về 4 Đông hướng trên gọi là Đông tứ trạch. Người thuộc Đông tứ mạng thì hợp tốt ở 4 hướng Đông tứ trạch.

5b) Tây tứ hướng gồm 4 hướng:

Tây nam (quẻ khôn); Tây (quẻ đoài); Tây bắc (quẻ càn) và Đông bắc (quẻ cấn). Người nào có năm sinh với trường nhân điện hợp với 4 tây hướng trên gọi là Tây tứ mạng. Nhà và các công trình có cổng và hướng cửa nhà mở về 4 Tây hướng trên gọi là Tây tứ trạch. Người thuộc Tây tứ mạng thì hợp tốt ở 4 hướng Tây tứ trạch.

Mỗi con người được sinh ra, do hấp thụ ảnh hưởng của trường thiên thể của vũ trụ cộng với trường tác động của Trái đất; mang trong mình một trường nhân thể (ta gọi là điện sinh học); Trường nhân thể của mỗi người do năm sinh khác nhau sẽ hợp với một trong hai nhóm hướng nói trên. Tuổi người nào hợp trường 4 Đông hướng được gọi là Đông tứ mạng thì luôn luôn thu nhận được trường khí tốt ở 4 hướng: Bắc, Nam, Đông và Đông Nam. Tuổi người nào hợp trường 4 Tây hướng được gọi là Tây tứ mạng thì luôn luôn thu nhận trường khí tốt ở 4 hướng: Tây Nam, Tây, Tây Bắc và Đông Bắc.

          Để biết được năm sinh của mỗi người thuộc Đông mạng hay Tây mạng ta cần phải sử dụng tới “Bảng tra cung mạng” được tính sẵn để xác định lựa chọn nhóm hướng đất, nhà phù hợp và tránh hướng khắc xấu, thông qua 8 quẻ mạng là: Càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài.

          Tám quẻ mạng được chia thành hai nhóm: Đông tứ mạng và Tây tứ mạng

  • Đông tứ mạng gồm: Mạng khảm (hướng Bắc); Mạng chấn (hướng Đông); Mạng tốn (hướng Đông Nam) và mạng ly (hướng Nam). Hợp tốt 4 Đông hướng.
  • Tây tứ mạng gồm: Mạng càn (hướng Tây Bắc); Mạng cấn (hướng Đông Bắc); Mạng khôn (hướng Tây Nam); Mạng đoài (hướng Tây). Hợp tốt 4 Tây hướng.

Sự phối hợp 8 quẻ mạng với 8 phương hướng sẽ xảy ra những sự khắc

hợp khác nhau thông qua thuộc tính ngũ hành tương phối với nhau, xảy ra 4 trường hợp cùng nhóm với hướng mạng phối tốt là: Sinh khí, Thiên y, Diên niên và phục vị, và 4 trường hợp khác nhóm trái trường nhau thì phối xấu đó là: Họa hại, Lục sát, Ngũ quỷ và Tuyệt mạng.

          Biểu đồ cung mạng và quan hệ với tám hướng:

<1> Nhóm thuộc Đông mạng: Mạng khảm, mạng chấn, mạng tốn, mạng ly.

CÀN TÂY BẮC LỤC SÁT

KHẢM BẮC PHỤC VỊ

CẤN ĐÔNG BẮC NGŨ QUỶ

 

CÀN TÂY BẮC NGŨ QUỶ

KHẢM BẮC THIÊN Y

CẤN ĐÔNG BẮC LỤC SÁT

ĐOÀI TÂY HỌA HẠI

ĐÔNG MẠNG

CHẤN ĐÔNG THIÊN Y

 

ĐOÀI TÂY TUYỆT MẠNG

ĐÔNG MẠNG

CHẤN ĐÔNG PHỤC VỊ

KHÔN TÂY NAM TUYỆT MẠNG

LY NAM DIÊN NIÊN

TỐN ĐÔNG NAM SINH KHÍ

 

KHÔN TÂY NAM HỌA HẠI

LY NAM SINH KHÍ

TỐN ĐÔNG NAM DIÊN NIÊN

      NGƯỜI MẠNG KHẢM: HƯỚNG BẮC                            NGƯỜI MẠNG CHẤN: HƯỚNG ĐÔNG

             (thuộc ĐÔNG TỨ MẠNG)                                               (thuộc ĐÔNG TỨ MẠNG)

 

CÀN TÂY BẮC HỌA HẠI

KHẢM BẮC SINH KHÍ

CẤN ĐÔNG BẮC TUYỆT MẠNG

 

CÀN TÂY BẮC TUYỆT MẠNG

KHẢM BẮC DIÊN NIÊN

CẤN ĐÔNG BẮC HỌA HẠI

ĐOÀI TÂY LỤC SÁT

ĐÔNG MẠNG

CHẤN ĐÔNG DIÊN NIÊN

 

ĐOÀI TÂY NGŨ QUỶ

ĐÔNG MẠNG

CHẤN ĐÔNG SINH KHÍ

KHÔN TÂY NAM NGŨ QUỶ

LY NAM THIÊN Y

TỐN ĐÔNG NAM PHỤC VỊ

 

KHÔN TÂY NAM LỤC SÁT

LY NAM PHỤC VỊ

TỐN ĐÔNG NAM THIÊN Y

          NGƯỜI MẠNG TỐN: ĐÔNG NAM                                  NGƯỜI MẠNG LY: HƯỚNG NAM

               (thuộc ĐÔNG TỨ MẠNG)                                               (thuộc ĐÔNG TỨ MẠNG) 

 

<2> Nhóm thuộc Tây mạng: Mạng càn, mạng cấn, mạng khôn, mạng đoài.

CÀN TÂY BẮC PHỤC VỊ

KHẢM BẮC LỤC SÁT

CẤN ĐÔNG BẮC THIÊN Y

 

CÀN TÂY BẮC THIÊN Y

KHẢM BẮC NGŨ QUỶ

CẤN ĐÔNG BẮC PHỤC VỊ

ĐOÀI TÂY SINH KHÍ

TÂY MẠNG

CHẤN ĐÔNG NGŨ QUỶ

 

ĐOÀI TÂY DIÊN NIÊN

TÂY MẠNG

CHẤN ĐÔNG LỤC SÁT

KHÔN TÂY NAM DIÊN NIÊN

LY NAM TUYỆT MẠNG

TỐN ĐÔNG NAM HỌA HẠI

 

KHÔN TÂY NAM SINH KHÍ

LY NAM HỌA HẠI

TỐN ĐÔNG NAM TUYỆT MẠNG

           NGƯỜI MẠNG CÀN: TÂY BẮC                                    NGƯỜI MẠNG CẤN: ĐÔNG BẮC

                  (thuộc TÂY TỨ MẠNG)                                                 (thuộc TÂY TỨ MẠNG)    

 

CÀN TÂY BẮC DIÊN NIÊN

KHẢM BẮC TUYỆT MẠNG

CẤN ĐÔNG BẮC SINH KHÍ

 

CÀN TÂY BẮC SINH KHÍ

KHẢM BẮC HỌA HẠI

CẤN ĐÔNG BẮC DIÊN NIÊN

ĐOÀI TÂY THIÊN Y

TÂY MẠNG

CHẤN ĐÔNG HỌA HẠI

 

ĐOÀI TÂY PHỤC VỊ

TÂY MẠNG

CHẤN ĐÔNG TUYỆT MẠNG

KHÔN TÂY NAM PHỤC VỊ

LY NAM LỤC SÁT

TỐN ĐÔNG NAM NGŨ QUỶ

 

KHÔN TÂY NAM THIÊN Y

LY NAM NGŨ QUỶ

TỐN ĐÔNG NAM LỤC SÁT

            NGƯỜI MẠNG KHÔN: TÂY NAM                                      NGƯỜI MẠNG ĐOÀI: TÂY

                  (thuộc TÂY TỨ MẠNG)                                                 (thuộc TÂY TỨ MẠNG)

 

Việc phối cung mạng với hướng nhà tạo ra 8 loại phối khí (gọi là bát khí) ảnh hưởng đến từng cá thể con người, ở các vị trí với vùng hướng khác nhau trong căn nhà.

          Ý nghĩa của 8 loại khí (bát khí) như sau:

<1> Sinh khí: (tốt) Chỉ việc nhận được khí vượng tốt cho con người, có lợi cho người con trai, lợi cho danh tiếng. Tạo ra sức sống dồi dào, mọi sự việc luôn được sinh sôi nảy nở, tính dục mạnh mẽ, chủ về phát phúc, hòa hợp, thăng tiến.

<2> Thiên y: (tốt) Chủ về sức khỏe tốt, có lợi cho phụ nữ, vượng về tài lộc. Tiêu trừ bệnh tật, tâm tính ổn định, có được giấc ngủ ngon lành. Thường có quý nhân bên ngoài giúp đỡ. Luôn luôn có sự đổi mới, mưu sự thành đạt, gia đạo bình yên.

<3> Diên niên: (tốt) Chủ khí hòa thuận, tốt cho sự nghiệp và ngoại giao. Tốt cho các mối quan hệ khác; vợ chồng hòa thuận; tăng thêm tuổi thọ; giảm bớt kẻ kình địch, có được tính tình hòa dịu, tăng thêm sức thuyết phục, tăng tính kiên trì. Đối với nữ giới có được người bạn tốt. Sự nghiệp kinh doanh thăng tiến, mưu sự thuận lợi và đạt nhiều kết quả tốt.

<4> Phục vị: (tốt) Đúng vị trí hướng cung mạng, thu được sự bình yên, trấn tĩnh. Có lợi tốt cho hướng đặt bàn thờ, tạo khí vững vàng cho chủ nhà. Về tình duyên tốt, gắn bó, có khả năng kiếm ra tiền tốt. Giữ được mối quan hệ trong gia đình với cha mẹ, vợ con tốt. Về tính dục có phần giảm sút, nếu có tà khí trong nhà được cân bằng, quân bình giữa cát và hung.

<5> Tuyệt mạng: (là khí xấu): Vào các vùng hướng tuyệt mạng mà sắp đặt, kích hoạt, lưu thông hoặc hướng cửa ra vào; chủ nhân thường mắc các chứng bệnh khó chữa hoặc phải mổ xẻ; bị đao thương, va chạm xe cộ hay bị trộm cắp. Trong người thường cảm thấy không yên. Công việc suy tính quá đáng, buồn phiền, u sầu; ít nói, bị ức chế, sinh bệnh tâm thần. Duyên phận con cái bạc bẽo, gia đạo bất an.

<6> Ngũ quỷ: (khí xấu) Lúc nào cũng như có 5 thứ tà khí xấu quấy rối sự sống và quan hệ gia đình, con người. Hướng cung ngũ quỷ rơi vào vị trí buồng ngủ, bếp, cửa ra vào thì các việc lôi thôi và tai họa vô cớ ập đến. Người nhà mổ xẻ, ung thư, gặp tai tiếng thị phi, hay bị mất trộm. Công việc làm ăn trắc trở dẫn đến phá sản, quan tai; người nhà đau yếu liên miên và đề phòng hỏa hoạn.

<7> Lục sát: (khí xấu) Rơi vào các vị trí tốt thì gây tình duyên trắc trở, người ở không yên, quan hệ vợ chồng thường cãi vã lẫn nhau, trong người phiền não. Thường xảy ra nhiều điều thị phi. Sự nghiệp gặp trắc trở, nam giwos không lo làm ăn, hay rượu chè, cờ bạc, mất ngủ.

<8> Họa hại: (khí xấu) Rơi vào các vị trí tốt thì quan hệ trong nhà thường gây chia rẽ, quan tai, luôn gặp tiểu nhân gay tai tiếng thị phi, mệt mỏi bởi những việc vụn vặt, cơ thể suy nhược, mất tự tin, rời rạc, thường gây gổ, thưa kiện với bên ngoài, kém về tài lộc, mắc nhiều bệnh tật, gia đạo bất an. Hôn nhân và sinh sản cần cẩn thận với điều xấu đến.

          Như vậy, việc phối 8 cung mạng với 8 hướng của khu đất và căn nhà là yếu tố chính để tiến hành sắp đặt các khu vực bếp, vị trí bếp lò, hướng cửa lò bếp, phòng ngủ cho đến chọn hướng mở cửa chính nhà, cổng khu nhà, hướng thờ, hướng ngủ, hướng ngồi học và làm việc v.v.....là để làm cân bằng trường khí giữa người và thiên nhiên để thu được những điều tốt lành , tránh những điều xấu xảy ra,

          Và đây cũng là những vấn đề được đưa lên hàng đầu để lập các thông số và lập cách sử lý cho bước tiếp theo để tiến hành của một công trình thiết kế hoàn hảo.

6. Vận dụng la bàn để định hướng.

          La bàn là công cụ quan trọng hàng đầu để giúp cho chúng ta xác định được 8 hướng của trời đất. Để định hướng cuộc đất, hướng nhà mà nó mang trường khs của hướng tác động ảnh hưởng đến con người, giúp ta định dạng và lựa chọn cho mình các hướng phù hợp, tránh hướng khắc sát.

          Vận dụng dụng cụ la bàn để xác định hướng chuẩn xác là điều quan trọng đối với tất cả chúng ta, và nhất là nắm được hướng chính xác để tiến hành lập phương án thiết kế của bất kỳ công trình nào hay nhà ở; các nhà phong thủy cần thuần thục sử dụng la bàn để giúp lập các giải pháp xử lý tốt, tránh hung cho nhà cửa và phần âm trạch mồ mả, đem lại điều tốt lành cho mọi người.

  • Phân độ 8 hướng trời đất ứng với la bàn như sau: (Sơ đồ)

- Hướng Bắc (cung khảm) – 33705 đến 2205.

- Hướng Đông Bắc (cung cấn) - 2205 đến 6705.

- Hướng Đông (cung chấn) - 6705 đến 12205.

 

- Hướng Đông Nam (cung tốn) – 12205 đến 15705.

- Hướng Nam (cung ly) – 15705 đến 20205.

- Hướng Tây Nam (cung khôn) - 20205 đến 24705.

- Hướng Tây (cung đoài) – 24705 đến 29205.

- Hướng Tây Bắc (cung càn) – 29205 đến 33705.

          Mỗi một cung hướng 450, 8 hướng một vòng tròn trời đất là 3600 gọi là một “Chu Thiên”.

Có 8 đường hướng giao nhau của 8 hướng (đường giành giới); Trong phong thủy học, 8 đường này được gọi là “Đường phân châm”. Nhà và công trình nào có đường vuông góc mở cổng, cửa mở rơi vào đúng đường phân châm này thì nhận được trường hướng rất xấu. Thì mọi điều xấu sẽ phải xảy ra, sự bất ổn định do hướng trường phân châm gây ra phong thủy học gọi là “Đại không vong” “Hướng bất khả lập” không nên chọn làm. Lúc đó ta chọn giải pháp làm chếch cổng, cửa nhà sang bên trái hoặc phải 70 để chọn được trường hướng tốt. (Cần nắm chắc hướng phân châm).

6. Mệnh trạch với 8 cung hướng.

          Mỗi một con người sinh ra đều mang trong mình một trường nhân thể (điện sinh học) và hợp với trường thiên thể (các sao chiếu ảnh hưởng lớn đến Trái đất) và hợp với một nhóm hướng nhất định (4 hướng); hoặc là 4 Đông hướng; hoặc là 4 Tây hướng, nằm trong 8 cung hướng và được chia ra làm:

  • Đông tứ mạng: hợp 4 Đông hướng Bắc, Nam, Đông và Đông Nam.
  • Tây tứ mạng: hợp 4 Tây hướng; Tây Nam; Tây; Tây Bắc và Đông Bắc.

(Tra bảng cung mạng để xác định cho chính xác).

          Mỗi một ngôi nhà và công trình kiến trúc cũng vậy, với tác động trường mỗi hướng từ cổng, cửa chính vào ảnh hưởng tới căn nhà và được chia ra làm:

  • Đông tứ hướng: là 4 hướng; Bắc; Nam; Đông và Đông Nam. Công

trình, nhà cửa mở hướng về 4 hướng trên được gọi là “Đông tứ trạch”.

  • Tây tứ hướng: là 4 hướng: Tây Nam, Tây, Tây Bắc và Đông Bắc.

Công trình nhà cửa mở hướng về 4 Tây hướng trên gọi là “Tây tứ trạch”.

          Đông; Tây tứ trạch thuộc trường tác động của trời đất đều tốt.

          Vậy với Đông trạch hay Tây trạch mà ta đang ở; thuộc hướng tốt hay xấu đều do cung mạng (trường nhân điện) của từng người hợp hay khắc hướng quyết định. (Nó nằm trong nguyên lý bát quái phối mạng phần trên đã trình bày).

7. Môi trương phong thủy kiến trúc.

          Môi trường phong thủy kiến trúc là mối quan hệ giữa công trình kiến trúc với môi trường xung quanh.

          Môi trường phong thủy bao gồm 4 yếu tố:

  • Ánh sáng và độ ẩm.
  • Khí hậu và thời tiết.
  • Điạ hình và cảnh quan.
  • Các công trình kiến trúc, vật kiến trúc gần kề hoặc nơi xa tác động.

Vậy để có được một môi trường tốt, ta cần xử lý các phần sau:

          Nhà nên làm cao ráo, thông thoáng, tránh thấp trũng ẩm ướt, tụ đọng, nhà ở nơi đồi núi thì đừng quá dốc, phải kín gió.

          Có đầy đủ ánh sáng, thu hút khí trong lành, ở nơi yên tĩnh, tránh ồn ào, tối tăm, môi trường bẩn thỉu, ô nhiễm.

          Không ở sát các công trình đồ sộ, to lớn mà nhà bị che khuất, chèn ép.

          Tránh các luồng khí thổi hút giữa hai dãy nhà cao tầng, lọt khí thổi thẳng vào nhà (phong thủy gọi là thiên trảm sát). Nhà bị các góc nhọn, phần mái tam giác bên ngoài chiếu thẳng vào nhà, vào cửa.

          Để tránh những trường hợp tác động xấu do bên ngoài gây nên cần có các phương án chấn, chế, hóa giải theo nguyên lý chế hóa của phong thủy thường dùng để làm cân bằng trường khí, nâng cao chất khí tốt cho căn nhà, để người cư ngụ sống trong đó được yên ổn, an toàn.

          Nghiên cứu và ứng dụng tối đa thuyết phong thủy với cách bố cục sắp đặt theo thế cuộc tứ linh là: Tiền (phía trước) chu tước; Hậu (mặt sau) Huyền vũ; Tả (bên trái) Thanh Long; Hữu (bên phải) Bạch hổ. Có được cách bố trí sắp đặt một cách hoàn hảo thế cuộc tứ linh  thì vận khí của căn nhà sẽ tốt hẳn lên, thì những điều tốt đẹp sẽ ứng nghiệm mau chóng và lâu dài cho người sống trong môi trường đó.

  • Sơ đồ vị trí tứ linh của một căn nhà.

8. Trường khí với sao vận, tọa và hướng.

Theo thuật phong thủy, sự vận hành của các sao trời (Thiên Tinh) gây nên sóng trường tác động khắp vũ trụ (chu thiên). Sự cộng hưởng của các trường sóng trong không gian và vào một thời gian nhất định, tạo nên sự tác động ảnh hưởng không giống nhau mà ta gọi là vận khí trời đất. Sự tác động tuy cùng thời điểm ở vào các vị trí phương hướng khác nhau sẽ có các vận khí không như nhau.

Ngày nay chúng ta đang trải qua thời điểm tác động của vận 8, vận khí từ năm 2004 đến 2023; Trong 20 năm này, chịu tác động khí trường của sao vận chủ quản không chế đến vị trí tọa sơn (sau nhà) và hướng (cửa phía trước) của ngôi nhà và mọi cái từ con người đến vật thể đều bị không chế ảnh hưởng của tọa và hướng sao; nó sẽ đem lại những điều tốt hay xấu cho người cư ngụ, mỗi tọa hướng một khác còn gọi là trạch vận (vận nhà).

          Trạch vận rất quan trọng để xét đoán con người ở đó được tốt hay xấu, qua tọa và hướng để biết được trạch vận, nó giúp chúng ta tìm cách điều chỉnh hóa giải, lựa chọn nên hay không nên làm hoặc ở căn nhà đó vào thời điểm này.

          Lý thuyết dùng sao vận để xét đoán hay thiết kế nhà gọi là vận dụng thuyết “Huyền không phi tinh” rất khó học và nắm bắt, cần có các buổi học riêng để giới thiệu.

 

II. PHẦN II

THỰC HÀNH ỨNG DỤNG PHONG THỦY TRONG THIẾT KẾ KIẾN TRÚC, QUY HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ BẤT ĐỘNG SẢN

1. Lựa chọn địa điểm, đọc khí vận địa điểm:

Là bước đầu tiên quan trọng với người chọn đất xây dựng công trình nhà cửa, cũng là bước đầu tiên quan trọng đối với tác giả thiết ké công trình.

          Đánh giá được địa điểm phù hợp với người sử dụng, đánh giá được giá trị tiềm ẩn của nó thì đòi hỏi: Khi đến địa điểm phải đọc được khí vận của địa điểm.

          Khí vận của một địa điểm bao gồm 3 loại khí: Thiên khí, địa khí và nhân khí. Thường được gọi là tam tài (thiên địa nhân).

          Thiên, địa và nhân khí đều có liên quan đến: thiên văn, địa lý, nhân sự và thời gian, không gian, nhân gian, chính các khí vận này đã tạo nên điều cát hung cho cuộc đời con người.

          Khi ta đến một địa điểm; chỉ dựa vào trực quan để cảm thụ khí mà không căn cứ vào một nền tảng lý thuyết nào là vô cùng nguy hiểm, nó tạo cho ta dễ mắc một số sai lầm, nhìn nhận và đánh giá sai về khí sát với khí tốt.

  • Trước tiên là xem hình cục cuộc đất và xác định địa hình nằm trong hình cục đó. Mục đích là nắm đặc tính đất để có thể sắp xếp cho việc bố cục thiết kế công trình cho đúng, hợp lý.
  • Luôn vận dụng quan điểm: Long, huyệt, sa, thủy, hướng. Với 5 nội dung này nó liên quan chặt chẽ đến phong thủy ứng dụng; hợp thiên khí; hợp địa khí và hợp nhân khí để lựa chọn, đánh giá địa điểm tốt xấu.
  • Nhận xét về hình dáng, khuôn khổ, to nhỏ, rộng hẹp, cao thấp, bằng phẳng và uốn lượn, đều có năng lượng lưu khí khác nhau để đánh giá được sự vận hành của địa khí.
  • Kết hợp xem trên bản đồ; nơi có đường đồng mức dày đặc là nơi có độ nghiêng gấp, thì tại đó khí vận mạnh, cũng có thể tận dụng loại khí này.
  • Đường đồng mức ngoằn nghoèo khác nhau thì địa khí thường chạy từ cao xuống thấp, giống như nước chảy vậy.
  • Chọn một địa điểm để xây dựng một tòa nhà; đầu tiên chọn hướng, đáp ứng được địa thế hợp lý để sắp xếp đường đi lối lại; đẫn khí đến khu nhà sau đó mới tiến hành thiết kế nhà.
  • Tại địa điểm khảo sát, nhất thiết phải vận dụng la bàn để định hướng toàn bộ cuộc đất và địa điểm vị trí đặt công trình cho thật chính xác. Định hướng chọn chính xác cho công trình tức là định thiên khí tốt cho tòa nhà.

          Như vậy việc đánh giá đúng khí vận của địa điểm tức là định được sự tốt xấu của địa khí.

2. Lập số liệu theo cung mạng của từng người.

          Thông số: Năm, tháng, ngày, giờ sinh của mỗi người, cho ta biết khí vận của người đó. Bốn yếu tố về con số thời gian sinh cũng cho biết người đó hợp với trường hướng nào của trời đất, bị trường hướng nào xung khắc chế ngự.

          Mỗi một người do năm sinh; thuộc cung mạng gì, hợp đông tứ mạng hay tây tứ mạng, hợp tốt với hướng trời, mà lựa chọn được hướng hợp gọi là hợp thiên khí, ngược lại là hướng xung khắc. Mỗi người do năm sinh một khác, tổ hợp một gia đình, một nhóm người ở cùng một không gian hoạt động, ăn ở sinh hoạt, thì sự ảnh hưởng của trường khí hướng lại tốt với người này xung khắc với người kia.

          Vậy lập số liệu theo cung mạng từng người để biết được căn nhà hợp tốt với ai và khắc sát với ai. Được trường khí sinh hợp thì luôn thuận lợi trong tất cả mọi cái, ngược lại thì luôn bị trắc trở khó khăn.

          Khi sắp xếp cung mạng từng người vào các phương vị của căn nhà ta có thể đánh giá được: thiên khí của căn nhà; qua đó sắp xếp các phần còn lại cho phù hợp và làm cân bằng lại toàn bộ khí có cho căn nhà.

          Mọi sự sắp đặt mà không thể làm cân bằng hài hòa được thì không gọi là một địa điểm tốt được.

3. Định hướng thiết kế phần thiên, phần địa và phần nhân.

a.Phần thiên.

          Qua hình thù kích thước của một địa điểm , một căn nhà ta xác định được hướng của căn nhà ấy. Hướng chính của căn nhà từ trong nhìn ra, nó nằm trong một trong 8 hướng của trời đất, mỗi hướng là 450, trường hướng từ bên ngoài tác động vào gọi là thiên khí.

          Thiên khí hợp hay khắc; tốt hay xấu với cung mạng từng người khác nhau (bài toán tính cung mạng cho một căn nhà định rõ ở phần trên). Giúp ta định hướng các giải pháp, hóa giải, chế sát hay tận dụng, nâng khí theo thuật phong thủy.

          Đòi hỏi người lập các phương án thiết kế phải nắm được và thông báo cho thân chủ của căn nhà biết mà đề phòng, yên tâm trong quá trình ăn ở, sinh hoạt khi sử dụng công trình.

b. Phần địa.

          Ở đây nói tới địa khí gồm các yếu tố của long khí, long mạch; cũng muốn nhấn mạnh là sự sắp đặt các phần ngầm dưới mặt đất; âm khí. Địa khí tốt, đúng luon cho ta địa lộc; lộc đất là quan trọng nhất bởi không một ai không có chỗ ăn ở, trú ngụ. Được khí vận đất tốt; ăn ở sẽ an bình, con người khỏe mạnh, có sức sống; thì mọi cái đều thuận lợi.

          Địa khí ngay trong nhà tạo nên do thủy pháp, đường hành lang ra vào sự sắp xếp các bể ngầm trong nhà.

          Khi thiết kế, tạo dựng một căn nhà; phần nhân cho thấy: “Thủy pháp vi tối yếu, sắp đặt đúng đường cấp thoát nước là quan trọng nhất. Vậy với mỗi một hướng nhà, thì việc lựa chọn sắp đặt đường cấp thoát nước, đường hành lang từ cửa nhập nội là một khác nhau: Khi sắp đặt đúng cách của phong thủy se có địa lộc, có tài lộc. Sắp đặt sai gọi là thất lộc, tiền tài không những không vào nhà mà còn bị thất thoát đi mất, hoặc làm ăn kinh doanh luôn thua lỗ, thất bại.

          Địa khí còn xem sắp xếp khu nước vào, bể chứa nước sạch ngầm đặt tại đâu: Bể chứa tà khí sát xấu là bể xí tự hoại (hay hầm cầu bể phốt) sắp đặt đúng cách mà thuyết phong thủy hướng dẫn; thì những yếu tố thuận lợi do có khí vận tốt sẽ mang lại cho gia chủ và các thành viên ở trong căn nhà và ngược lại thì mọi tai họa lớn nhỏ, nặng nhẹ sẽ xảy đến mà con người phải hứng chịu.

c. Phần nhân.

          Yếu tố con người ; chính chủ đều có trường hướng hợp khắc nhất định; Để tạo cho con người có đầy đủ nhân khí thì việc sắp xếp: Bếp, bàn thờ, hướng ngủ, chỗ ngồi làm việc được nghiên cứu sắp xếp ở các vị trí cung hướng trong nhà hợp với cung mạng tạo ra bát khí tốt; thì con người luôn có vận khí tốt. Nếu sắp xếp trái ngược trường hướng chủ nhà thì mọi điều xấu sẽ xảy đến thậm chí còn nguy hại đến tính mạng con người.

          Vậy tạo nhân khí hợp tốt thì:

  • Hướng bếp: núm vặn hướng về hướng sinh khí; thiên y của cung mạng.
  • Hướng thờ: hướng về hướng phụ vị; phúc đức; thiên y và sinh khí
  • Hướng ngủ: mặt nhìn về một trong hướng tốt với cung mạng.
  • Vị trí ngồi học, làm việc hướng về hướng tốt cung mạng.

4. Ứng dụng trường khí tam môn bát quái và 24 cung phúc đức.

          Phong thủy cho một căn nhà, dựa trên những yếu tố căn bản là phương hướng. Mỗi hướng ứng với một phần của căn nhà, hay còn gọi là một cung. Mỗi cung tượng trưng cho một lĩnh vực trong đời sống của con người.

a. Việc phân định vị trí 8 cung.

          Khoa phong thủy luôn lấy phía trước cửa ra vào là khí vận nhập vào nhà (gọi là khí khẩu).

          Mặt phía trước nhà có thể bố trí được 3 hướng cửa vào nhà được gọi là tam môn; tam môn đó sẽ có sự sắp đặt 8 cung quẻ trong một căn nhà; một căn phòng gọi là “Tam môn bát quái”.

          Tam môn bát quái được phân định trong một căn phòng như sau:

1. Cung quý nhân phù trợ.

2. Cung sự nghiệp.

3. Cung trí thức.

4. Cung gia đình.

5. Cung tài lộc.

6. Cung danh tiếng.

7. Cung tình duyên.

8. Cung con cái.

9. Trung cung (giữa nhà)

          Với 8 cung của tam môn bát quái:

1. Khi nào tác động vào cung sự nghiệp, cách tác động.

2. Khi nào tác động vào cung trí thức, cách tác động.

3. Khi nào tác động vào cung gia đình, cách tác động.

4. Khi nào tác động vào cung tài lộc, cách tác động.

5. Khi nào tác động vào cung danh tiếng, cách tác động.

6. Khi nào tác động vào cung tình duyên, cách tác động.

7. Khi nào tác động vào cung con cái, cách tác động.

8. Khi nào tác động vào cung quý nhân, cách tác động.

9. Trung cung ảnh hưởng tất cả mọi người trong nhà, thuộc tâm điểm, cần phải ổn định. Vậy đặt bể nước; bể phốt; toilet ở vị trí trung cung sẽ làm cho trung cung không ổn định. Hậu quả là làm cho cuộc sống mọi người trong nhà thường hay bị xáo trộn hoặc thay đổi hoặc ngoài ý muốn của mình.

          Khi phân định vị trí 8 cung 8 hướng, nó không chỉ giới hạn 1 căn nhà còn áp dụng cho một căn phòng ; phòng tiếp khách, lễ tân, phòng sinh hoạt chung; phòng làm việc, phòng bán hàng, quầy hàng kinh doanh, v.v.....

          Để có được hiệu quả tối đa về thu nhập tài chính thì việc tác động vào cung tài lộc của cả khu nhà; của ngôi nhà các phòng chủ chốt để tạo kích khí, nâng khí từ tổng thể đến từng chỗ riêng biệt để đạt được hiệu quả tối đa.

          Nên tác động mỗi lần một cung và thay đổi dần để theo dõi hiệu quả và để điều chỉnh sự thay đổi theo ý muốn của mình. Hoặc cũng có thể ngay từ đầuvới sự sắp đặt hoàn chỉnh, mỹ mãn, chuẩn xác và hợ lý sẽ đem lại vận may ngay từ đầu, cát vận sẽ có được sung mãn, hiệu nghiệm như thần.

b. 24 cung phúc đức.

          Để tận dụng khí trường 8 hướng ứng dụng trong việc thiết kế sắp đặt hướng độ mang lại khí tốt. Các nhà phong thủy chia 8 hướng chính ra làm 24 hướng nhỏ; gọi là 24 sơn hướng, mỗi hướng xác định khí trong cung 150.

          Việc định hướng chi tiết lấy khí từ mỗi cung để mở cửa làm nhà, người ta gọi là 24 môn lầu ngọc bối mà ta thường gọi là 24 cung phúc đức.

          Phân định hướng nhà; ta lấy cửa ra vào làm chính. Hướng nhà và hướng ngõ có mối tương quan mật thiết. Mở hướng ngõ, hướng nhà phải phối hợp tốt với bốn mạng trạch chủ (chủ nhà). Nếu ngõ phạm sai lệch khắc sát cung mạng chủ nhà thì dẫu hướng nhà có tốt bao nhiêu cũng phí công vô ích.

          Dưới đây là mô hình rút gọn bảng phân định 24 sơn hướng để tiện việc lựa chọn áp dụng cho căn nhà thiết kế; cải tạo để luôn tạo được sự hợp lý với hướng trường trời đất, đem lại vận khí tốt cho người sử dụng.

 

          24 sơn hướng còn được chia thành 24 sao tốt xấu. Tùy thuộc mỗi trạch khác nhau mà có vị trí sao tốt xấu khác nhau, cụ thể bao gồm 24 sao (theo thư tự đặt cửa tại 24 cung).

<1> Phúc đức: được gia súc, của cải.

<2> Ôn hoàng: gây bệnh tật, ôn dịch.

<3> Tiến tài: thêm tài lộc, thêm nhân khẩu.

<4> Trường bệnh: các loại bệnh tật, sức khỏe giảm sút, bị chèn ép trong sự nghiệp.

<5> Tố tụng: tranh chấp, kiện tụng, có chuyện thị phi.

<6> Quan tước: thăng quan tiến chức, phat triển thuận lợi, thêm nhân khẩu.

<7> Quan quý: sinh quý tử, thêm đất đai, tài lộc.

<8> Tự ải: tổn thất về tài sản và nhân khẩu.

<9> Vượng trang: phúc thọ vô biên, nhân khẩu bình an.

<10>. Hưng phúc: thêm tài sản, dất đai, nhân khẩu, lợi nhất mệnh mộc.

<11> Pháp trường: kiện tụng không rõ nguồn gốc, lưu lạc tha hương.

<12> Điên cuồng: bệnh tật, dâm loạn, sảy thai.

<13> Khẩu thiệt: chuyện thị phi, kiện tụng, cãi vã.

<14> Vượng tâm: thêm đất đai, tài sản, thêm nhân khẩu.

<15> Tiến điền: thêm điền sản, gia đình hòa thuận.

<16> Khốc khấp: luôn có tiếng khóc, bệnh tật.

<17> Cô quả: sống cô độc, đi tha hương.

<18>. Vinh phú: thêm vinh hoa, điền sản, lợi nhất mệnh hỏa.

<19> Thiêu vong: tai nạn, thương tích.

<20> Xương dâm: nam nữ háo sắc, bại hoại gia phong.

<21> Thân hôn: thêm tiền tài, nhân khẩu.

<22> Hoan lạc: thêm tiền tài, gia súc, lợi nhất mệnh mộc.

<23> Bại tuyệt: mất tài sản, mất nhân khẩu, thêm bệnh tật.

<24> Vượng tài: thêm tài sản, sống lâu.                                                                                                                                                                                                                                 

          Cách xác định sắp xếp 24 sao theo thứ tự và khởi đặt phuc đức tại:

  • Cung càn. Hợi. Tuất khởi tại Tỵ                  
  • Cung khảm. Quý. Nhân khởi tại Thân.         
  • Cung đoài. Canh. Tân khởi tại Tỵ
  • Cung khôn. Mùi. Thân khởi tại Thân.
  • Cung ly. Bình. Định khởi tại Dần.
  • Cung tốn. Tỵ, Thìn khởi tại Hợi.
  • Cung cấn. Sửu, Dần khởi tại Thân.
  • Cung chấn. Mão, Ất khởi tại Hợi.

Cách xác định sắp đặt 24 cung phúc đức theo ngũ hành của hướng; quẻ. Khởi phúc đức ở vị trí Tràng Sinh – Đế vượng ngũ hành hướng.

Càn kim trường sinh ở Tỵ nên khởi phúc đức ở Tỵ.

Trên đây là phần nội dung chính về phong thủy ứng dụng, thực hành; nó giúp cho ta có được cách phán đoán một cách tương đối chuẩn xác về ngôi nhà, công trình ta đang sử dụng, đồng thời giúp cho ta có được khái niệm để cải tạo sửa chữa nhà ta đang ở; phần thực hành lý thuyết có thể ứng dụng trong thiết kế mwois công trình đem lại hiệu quả tốt đẹp.

          Nội dung lý thuyết và ứng dụng thực hành phong thủy còn rất nhiều và phong phú. Trên đây mới chỉ đề cập một phần ứng dụng; đối với các công trình thương mại, nhà hàng khách sạn, công trình công sở cũng như cơ sở sản xuất của công ty, nhà máy, v.v.....phần kiến thức và ứng dụng sẽ đề cập ở các phần riêng biệt.

PHẦN KẾT:

          Môn phong thủy đã đề cập và giải quyết 3 vấn đề lớn của vũ trụ đó là Thiên khí – Nhân khí – Địa khí.

          Trên một mảnh đất, có được một không gian dù có thuận tiện và đẹp đến mức nào nếu không có công trình kiến trúc nhà cửa xây dựng trên đó hoặc không có ngôi mộ âm trạch nằm trên đó, thì không thể nói tới vấn đề phong thủy.

          Một công trình nhà dù to nhỏ, cao thấp nó được ví như một cơ thể con người. Phong thủy được ứng dụng vào thiết kế làm nhà, như bơm một luồng khí cho công trình có đầy đủ linh hồn và sức sống.

          Phong thủy là môn học vấn chọn đất để làm nhà, với đời sống thời thượng hiện nay, mọi người đều mong muốn có được một mội trường hoàn mỹ và một căn nhà ở hợp lý với ý thích và hoàn thiện về mọi mặt.

          Vậy một căn nhà được thiết kế có ứng dụng học thuyết phong thủy là đỏi hỏi của tất cả mọi người chúng ta. Đứng trước hoàn cảnh thực tế này vai trò của các nhà đầu tư bất đọng sản, các nhà xây dựng, các nhà thiết kế công trình kiến trúc suy nghĩ gì? Và làm thế nào để đáp ứng đòi hỏi của thời đại, làm cho mỗi tác phẩm, con đẻ của ta tồn tại một cách bền vững, đẹp và đem lại mọi niềm vui và hạnh phúc cho người sử dụng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

In văn bản

Các tin khác: